A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghệ thuật Bài chòi dân gian trong đời sống văn hóa làng xã ở Khánh Hòa

Bài chòi là một hình thái nghệ thuật trình diễn dân gian sinh động mang bản sắc riêng với sự kết hợp khéo léo cả thơ, nhạc, hát, diễn xuất, ứng tác, y phục, mỹ thuật; thể hiện tính đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của cộng đồng cư dân miền Trung nói chung và Khánh Hòa nói riêng. Nghệ thuật trình diễn Bài Chòi được kế tục qua nhiều thế hệ trong sự tiếp nối dòng chảy văn hóa về phương Nam của người Việt. Nhằm bảo vệ và phát huy gía trị nghệ thuật trình diễn Bài Chòi trong đời sống văn hóa làng xã ở Khánh Hòa hiện nay, trước hết chúng ta tìm hiểu sự ra đời và thực trạng hoạt động của nghệ thuật Bài Chòi qua các giai đoạn, cũng như những định hướng trong thời gian tới.
 


Hình ảnh: khanhhoa.gov.vn

Vài nét về lịch sử, đặc điểm nghệ thuật trình diễn Bài Chòi

Tác giả Nguyễn Sỹ Chức có viết: Mỗi khi nói về lịch sử sân khấu Bài Chòi, người ta không thể không nhắc đến một làn điệu dân ca đã ra đời từ hội chơi bài chòi, từ khi anh “Hiệu”- người quản trò, còn hô suông tên những con bài như: Nhất trò, Nhì nghèo, Tam quăng, Tứ móc v..v… trong hội chơi Bài Chòi mỗi độ xuân về, để rồi trải qua một thời kỳ dài phát triển từ hô thai - hô đố tên con bài, đến Bài Chòi câu - câu hát có nội dung cụ thể nhưng vẫn gắn với tên con bài, đến Bài Chòi lớp - chuyên hô, kể về các tích, các lớp rút ở các vở Tuồng ra, và sau đó là giai đoạn phát triển của “Bài Chòi truyện”, hay còn gọi là Bài Chòi trải chiếu vì đã hình thành những gánh hô diễn dạo, hô diễn rong[1]…

            Theo nghiên cứu Trần Đình Hồng cho rằng: Ông Phan Đình Lang, tức Bốn Trang, còn gọi là Bốn Que, sinh năm 1910, ở xã Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định, nói rằng hồi còn nhỏ ông đã nghe ông nội và bà con kể là Bài Chòi do ông Đào Duy Từ (1571 - 1634) ở ngoài Bắc vào Bình Định khai khẩn đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, xây làng lập ấp khởi xướng. Ông còn lập gánh hát Bội, dạy hát, múa Tuồng, vui trong các ngày lễ, ngày Tết và bày ra chơi Bài Chòi. Từ việc làm các chòi giữ hoa màu tránh bị  thú rừng phá hoại, khi có thú về họ gõ mõ, gõ các dụng cụ để xua đuổi, các chòi làm gần nhau để hỗ trợ nhau, họ căng dây nối vào 2 ống tre, có bịt da ếch, nói vào ống, người phía đầu ống ở chòi bên kia để tai vào ống nghe được, "Hát ống" có từ đó, ông Đào Duy Từ mới sáng kiến bày ra trò chơi Bài Chòi trong các ngày lễ, Tết...

Bài Chòi ra đời và có nguồn gốc như thế nào, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, theo tôi đưa ra một vài ý để tham khảo: Với đặc điểm của vùng đất miền Trung nắng lắm, mưa nhiều, đất đai khô cằn, chủ yếu là đồi núi cao, đồng bằng hẹp, ít màu mỡ… do đó con người ở đây lao động sản xuất luôn gắn bó với nương rẫy, gò đồi nhiều hơn là vùng đồng bằng, cho nên họ dựng lên những cái chòi đơn giản làm bằng tre, lợp cỏ tranh với mục đích làm chòi canh, như chòi canh lúa, chòi canh rẫy, chòi canh mía… Chòi là nơi để trông coi đồng ruộng, nương rẫy cũng là nơi nghỉ ngơi tạm bợ sau những lúc làm lụng. Để khuây khỏa, giải trí sau những buổi làm việc mệt nhọc, họ tụ tập tại một số chòi để hò, vè, hát đối đáp, chơi bài cho vui… có lẽ Bài Chòi ra đời một phần từ đây chăng…?

 Bài Chòi được sản sinh ra trong quá trình lao động sản xuất và phát triển thông qua các loại hình âm nhạc trong dân gian của người dân. Theo nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí về hình thức diễn - xướng trong trò chơi đánh bài chòi xuất phát từ nhân vật trung tâm trong trò chơi đánh bài trên chòi là chú hiệu, thoạt đầu chức năng của chú hiệu chỉ đơn giản là xóc bài, rút ra một lá bài và hô to tên con bài vừa rút ra để thông báo cho các chòi chơi được biết. Sau này tiếng hô để thông báo tên con bài của chú hiệu, dần  được thay bằng những câu đố để tạo ra sự hồi hộp và hấp dẫn, rồi đến câu thai (câu đố bằng hình thức thơ). Như vậy, trong thơ tự nhiên đã hình thành tính chất của âm nhạc như: nhịp điệu, âm điệu và âm vận. Do năng khiếu ngẫu hứng của chú hiệu, từ câu thai được ứng tác bằng hình thức tấu thơ - xướng thơ và hình thành ban đầu một lối hát ngẫu hứng tiếp thu âm điệu từ nguồn của dân ca mang tính đặc trưng của vùng miền như: Hò, lý, ru... và cũng từ đây, một thể điệu bắt nguồn từ câu thai trong trò chơi đánh bài chòi được ra đời có tên gọi là hô Bài Chòi [2]….

Có thể nói đây là một hình thức độc diễn mang tính kể chuyện rất độc đáo, kết hợp với sự pha trò ngẫu hứng và ứng tác trong âm nhạc nhanh nhẹn của chú hiệu, đã hình thành một hình thức diễn - xướng dân gian đặc sắc, gần gũi với đời thường, nhưng lại lôi cuốn người nghe, người xem. Tác giả Giang Nam tâm sự rằng: Ngay từ tuổi ấu thơ (6,7 tuổi) tôi đã mê bài chòi. Khi có “gánh” bài chòi về làng, lũ trẻ chúng tôi luôn bám theo để được say mê ngắm nhìn và nghe các nghệ sỹ “hô” bài chòi, đóng vai vua chúa, tướng tá. Có khi ngủ ngay dưới chân các nghệ sỹ đang biểu diễn, cha mẹ, anh chị ra gọi không chịu về. Có mấy lý do: diễn viên đẹp, hát hay và diễn xuất nhảy múa cũng tài. Mặt khác, khi cần thì các cô các chú diễn viên có thể biểu diễn bất cứ chỗ nào bằng trên vài chiếc chiếu trải dưới đất, rồi kèn, trống, đờn, phách gõ nhịp…Và một lý do nữa là những câu bài chòi gắn liền với việc đả phá thói hư, tật xấu, có khi sáng tác tại chỗ làm mọi người rất thích thú nhưng đó chỉ là một mặt. Bài chòi luôn gắn liền với Tết và mùa Xuân, lễ hội [3]…

Vùng đất Khánh Hòa có địa hình núi non và biển đảo là phần lớn, đồng bằng thì nhỏ hẹp ven sông, do ảnh hưởng môi trường tự nhiên cho nên trong cách hát truyền khẩu Bài Chòi, hát dân ca của người dân Khánh Hòa thường gắn với cảnh quan địa danh nơi mình sinh sống:

Trèo lên Đèo Cả

Ngó xuống Vạn Giã – Tu Bông

Biết rằng phụ mẫu có đành không

Để em chờ, anh đợi uổng công hai đàng.

Hay

Đèo nào cao bằng đèo Rọ Tượng

Nghĩa nào trượng bằng nghĩa phu thê.

Bao giờ hòn Chữ bẻ tư

Biển Nha Trang cạn nước anh mới từ nghĩa em.

 

Qua quá trình tiếp biến nghệ thuật diễn xướng Bài Chòi ở Khánh Hòa đã lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó phản ánh tư duy sắc thái của cư dân nông nghiệp trồng trọt là chủ yếu và sau đó lại được đúc kết và khéo léo vận dụng trong các hoạt động của cư dân ngư nghiệp thể hiện ở một số câu hò, vè, điệu ví về kinh nghiệm lối sốngứng xử, tình nghĩa vợ chồng, làng xóm…

Ngó ra Hòn Yến ba lần

Thấy anh nằm trần trong dạ xót xa.

Gió lên bớ bà Vọng Phu

Chồng bà nhờ gió thuyền mau trở về.

 

Nghệ thuật trình diễn Bài Chòi ở miền Trung có từ sớm, nhưng chỉ phát triển cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, do các nghệ nhân từ Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên lập ra các gánh hátchủ yếu là người địa phương, sau đó phát triển lan rộng đến Khánh Hòa và bắc Ninh Thuận. Bài chòi ở Khánh Hòa trước đây chủ yếu tồn tại, phát triển theo hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, được lưu giữ bằng hình thức truyền khẩu, mang đậm tính dân gian. Các gánh Bài Chòi hoạt động nhỏ lẻ, họ vừa làm nghề nông, buôn bán nhỏ, vừa làm nghề hát. Hình thức thể hiện Bài Chòi có tính chất kể chuyện và các tích truyện nôm na trong dân gian. Về hát, hô Bài Chòi theo lối đối đáp, ứng xử trong đời sống thường ngày, hoặc phê phán thói hư, tật xấu trong xã hội, địa bàn hoạt động rộng khắp các làng, xã trong tỉnh, kể cả hoạt động nông nghiệp và ngư nghiệp. Cơ cấu tổ chức gánh hát gọn nhẹ, một người đóng nhiều vai, nhạc cụ một cây đàn cò, song loan…

Sau cách mạng Tháng Tám, nghệ thuật Bài Chòi dân gian được quan tâm đầu tư và dàn dựng, tổ chức biểu diễn phục vụ các chiến sĩ và nhân dân vùng căn cứ địa cách mạng, các chiến sĩ là nghệ sĩ đã thể hiện lớp hô, diễn Bài Chòi lẻ và các vở kịch Bài Chòi ngắn như: vở “Tờ tín phiếu Cụ Hồ”, “Bốn bánh xe lăn”, “Lý trưởng hội tề”, “Đội kịch chim Chèo Bẻo”… Nội dung các vở diễn ca ngợi Đảng và Bác Hồ kính yêu, ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân ta trên chiến trường … Sau đó các nghệ sĩ  -  chiến sĩ Bài Chòi ở Khu 5 được đưa ra miền Bắc tập kết và đào tạo một thời gian thể nghiệm, đến năm 1957 đã hình thành một bộ môn sân khấu mới, Ca kịch Bài Chòi Liên Khu 5. Ngành nghệ thuật sân khấu mới này nhanh chóng phát triển, đào tạo được nhiều diễn viên đưa vào chiến trường Khu 5 trong thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đoàn Dân ca kịch Khánh Hòa hiện nay, nguyên là Đoàn Ca kịch Giải phóng Khu Trung – Trung bộ là đoàn nghệ thuật Bài Chòi đã được đào tạo và đưa vào chiến trường Liên Khu 5 trong hoàn cảnh đó [4]…

Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đoàn Dân ca kịch tỉnh Khánh Hòa được thành lập. Lúc này, nghệ thuật sân khấu Bài Chòi chủ yếu là các làn điệu dân ca Khu 5 và hát Bài Chòi được nâng cao, hoàn thiện, khẳng định chỗ đứng của mình. Ngoài chức năng biểu diễn phục vụ nhân dân, Đoàn còn có nhiệm vụ bảo tồn nghệ thuật kịch hát Bài Chòi và hướng dẫn phong trào dân ca kịch trên địa bàn toàn tỉnh và tham gia đào tạo, giảng dạy tại các trường nghệ thuật của tỉnh và khu vực.

Thực trạng hoạt động nghệ thuật Bài Chòi ở Khánh Hòa

Qua điền dã của chúng tôi tại 6 huyện, thị ở Khánh Hòa, tuy chưa đầy đủ, hiện nay đã kiểm kê sơ bộ có 05 câu lạc bộ và khoảng 341 nghệ nhân, trong đó, nghệ nhân anh hiệu trong các hội chơi Bài Chòi: 25 người; nghệ nhân độc diễn Bài Chòi dân gian: 67 người; nghệ nhân chơi nhạc cụ Bài Chòi: 17 người; số lượng biết đàn, hát nghệ thuật Bài chòi: 186 người; nghệ nhân có khả năng truyền dạy: 44 người[1]. Hiện nay, tỉnh đang tiến hành lập hồ sơ khoa học của các gánh hát, câu lạc bộ đang tồn tại và hoạt động trong các làng xã ở Khánh Hòa, như [5]…:

- Gánh hát Huỳnh Thông, thôn Phú Vinh, xã Vĩnh Thạnh, thành phố Nha Trang, có nghệ nhân Kiều Hương (vợ ông Huỳnh Thông) giỏi đào bi và đồng thời là nghệ nhân hô Bài Chòi nổi tiếng ở miền Trung từ xưa tới nay. Nguồn gốc của gánh hát này biểu diễn chủ yếu là các pho tuồng cổ mà các dòng tuồng ở Khánh Hòa vẫn biểu diễn, gánh hát Huỳnh Thông còn diễn những vở tuồng pha Bài Chòi và một số trích đoạn Bài Chòi cổ… Nghệ nhân Huỳnh Thông, sinh năm 1919, quê xã Phước Long, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Ông là nghệ nhân hát bộ, kiêm thầy dạy nhạc uy tín, vang danh một thời; bà Kiều Thị Hương, sinh 1935 là nghệ nhân hiện nay biết hát bài chòi cổ, quê ở Tuy Hòa, Phú Yên, bà nổi tiếng hát bài chòi hay của nhiều giai đoạn từ tỉnh Phú Yên đến Khánh Hòa. Vợ chồng lập gánh hát lấy tên Huỳnh Long, từ Bình Định vào Phú Yên những năm 1950 và đến Khánh Hòa năm 1972. Các con ông bà đều theo nghề, gồm: nghệ nhân biết hát Bài Chòi kiêm hát bộ, Huỳnh Pháp, Huỳnh Thị Hạnh, Huỳnh Tâm, Huỳnh Nhật, Huỳnh Anh, Huỳnh Thị Lan, Huỳnh Ý,… Hiện nay ông Huỳnh Pháp tiếp tục sự nghiệp ba đời của cha để lại, làm bầu gánh Huỳnh Long, thường xuyên tổ chức biểu diễn tại các địa điểm tại các đình làng, lễ Tết ở vùng quê, phục vụ cộng đồng cư dân là chủ yếu.

- Gia đình cố nghệ nhân Nguyễn Văn Phá, Nguyễn Thị Rẫy sinh vào khoảng cuối thế thế kỷ XIX, nghệ nhân Nguyễn Văn Phá quê Bình Định, theo gánh hát của cha vào tại Gò Chuối, Đồng Xuân, Phú Yên. Đầu thế kỷ XX ông vào Nha Trang Tây, phường Phương Sơn lập nghiệp và tại đây, ông được cha mẹ truyền nghề. Lớn lên, ông lấy vợ cũng là bạn hát, bà Võ Thị Rẫy, quê Vũng Lắm, ghềnh Đỏ, Đông Hòa, Phú Yên. Nghệ nhân Nguyễn Văn Phá và Võ Thị Rẫy là thế hệ thứ hai, con của các ông bà sau này đều là nghệ nhân Bài Chòi nổi tiếng một thời: Nghệ nhân Nguyễn Văn Quý, sinh khoảng năm 1918, Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1922, Nguyễn Thị Tình, sinh năm 1923, Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1923, Nguyễn Thị Tốt sinh năm 1928, đây là thế hệ thứ ba. Nghệ nhân Nguyễn Văn Quý nối nghiệp gia đình, nổi tiếng với gánh Phước Hưng. Ông cùng các nghệ nhân đương thời, đưa bài chòi phát triển mạnh mẽ trong đời sống nhân dân giữa thế kỷ 20.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Tốt, lấy chồng là nghệ nhân Huỳnh Văn Thương sinh 1923, các con ông bà cũng đều là nghệ nhân như Huỳnh Thị Huê, Huỳnh Thị Lý, Huỳnh Hữu Phước, Huỳnh Ngọc Ẩn, đây là thế hệ thứ tư. Đến thế hệ thứ năm và thứ sáu, các con cháu của những nghệ nhân vẫn tiếp tục nối nghiệp hát bài chòi truyền thống của gia đình. Nổi tiếng có Huỳnh Kim Chung, Huỳnh Bá Phận, Huỳnh Thanh Danh, Huỳnh Thị Sâm, Huỳnh Thị Nhung, ….

- Câu lạc bộ Bài chòi của anh Nguyễn Dũng, sinh năm 1978, tổ 11 thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh hiện nay còn tồn tại và duy trì hoạt động thường xuyên, anh là cháu nội của nghệ nhân Nguyễn Dương (chánh ca Chạng), xuất thân từ Bình Định vào Khánh Hòa những năm 1940-1950, lập nên gánh hát Phước Thành, ông là con của kép hát Cửu Khi, học trò giỏi của cụ Đào Tấn, quê ở Bình Định. ông Nguyễn Dương giỏi về đóng đào, đặc biệt đào chiến. Vợ nghệ nhân Võ Thị Lứu, hát hay, múa đẹp, thông thạo tất cả các loại đào. Ông có 7 người con và trên 16 người cháu hiện đang kế nghiệp hát tuồng và Bài Chòi. Hiện Câu lạc bộ Bài Chòi của Nguyễn Dũng ngoài những buổi biểu diễn phục vụ nhân dân tại các đình, lăng, miếu mạo, lễ Tết ở vùng quê, họ còn là cộng tác viên đắc lực của Trung tâm Văn hóa tỉnh Khánh Hòa, tổ chức nhiều hoạt động thường xuyên phục vụ khách du lịch tham quan thưởng thức nhân dịp các ngày lễ, Tết, các sự kiện văn hóa khác của tỉnh như Festival Biển…

Ngoài ra ở Diên Khánh còn có các một số nghệ nhân tiêu biểu như Trần Thị A, sinh năm 1937, thôn Bình Thạnh, xã Diên Hòa, huyện Diên Khánh; nghệ nhân Nguyễn Thị Nga, sinh 1965, thôn Phước Thạnhxã Diên Toàn, huyện Diên Khánh…

- Thị xã Ninh Hòa là vùng đất có nhiều người biết hát Bài Chòi truyền thống lâu đời như: Gánh Bài Chòi hành nghề hô hát được thành lập sớm nhất ở đây là gánh hát do vợ chồng ông Mười Côn và bà Phùng Thị Lạc; gia đình nghệ nhân Phùng Trừ – nghệ danh là Bảy Trừ, sinh năm 1943, vợ là Đặng Ngọc Hạnh sinh năm 1952, trú tại tổ 14, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa. Gia đình nghệ nhân Trần Thị Mắn… và phải nói đến lớp thế hệ nối tiếp nghệ thuật trình diễn Bài Chòi truyền thống sau này của các diễn viên không chuyên: Ngọc Phấn, Hồng Yến, Huỳnh Kháng… đã làm cho phong trào ở đây phát triển mạnh mẽ và được duy trì cho đến ngày nay.

- Huyện Vạn Ninh, có đoàn gánh hát Thống Nhất, Trưởng đoàn là bầu gánh hát, nghệ nhân Nguyễn Quang Minh và vợ Trần Thị Kim Cúc, trú tại thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh; Gia đình nghệ nhân Nguyễn Thành Rí, sinh năm 1938, trú tại xã Vạn Bình, Vạn Ninh, hay nghệ nhân Trần Bộc - sinh năm 1926, là người sưu tầm và trình diễn “Hát Xà – Hát Mộc” nổi tiếng ở Khánh Hòa.

            - Thành phố Cam Ranh, huyện Cam Lâm có các nghệ nhân như Huỳnh Tư, Trần Thị Thương, Nguyễn Thị Sửu. Phường Cam Lợi, thành phố Cam Ranh có gia đình nghệ nhân Trần Thị Kim Bình, Trần Kỳ, Nguyễn Giỏi, Nguyễn Thị Kim Ngọc đã có công tổ chức biểu diễn và duy trì các hoạt động nghệ thuật trình diễn Bài Chòi ở địa phương trong nhiều năm qua.

            Thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng bộ môn nghệ thuật truyền thống Bài chòi do trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang đảm nhiệm, nhưng học viên theo học rất hạn chế, nhiều năm liền không có diễn viên mới được đào tạo. Phong trào nghệ thuật hát Bài Chòi tại các địa phương hiện nay chưa thực sự được quan tâm, vì thiếu nguồn kinh phí tổ chức hoạt động biểu diễn, tập huấn, đào tạo, hình thức đào tạo truyền nghề không còn phổ biến rộng rãi như những năm trước đây. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên xu thế của nghệ thuật Bài Chòi truyền thống có chiều hướng mai một, nguy cơ thất truyền đối với người học.

 Vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2014 về việc xét tặng Nghệ nhân Ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Nhằm ghi nhận công lao đóng góp của những nghệ nhân trong lĩnh vực nghệ thuật Bài Chòi, UBND tỉnh Khánh Hòa đã hướng dẫn các nghệ nhân xây dựng hồ sơ khoa học và trình Hội đồng quốc gia xét và công nhận cho 9 Nghệ nhân ưu tú, thì có 04 Nghệ nhân ưu tú thuộc lĩnh vực trình diễn nghệ thuật dân gian Bài Chòi, gồm các nghệ nhân: Trần Bộc, Trần Rí, Kiều Thị Hương, Trần Thị Tâm. Họ là những nghệ nhân tài năng có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địa phương.

Bảo tồn và phát huy nghệ thuật diễn xướng Bài Chòi ở Khánh Hòa trong thời gian tới.

Nghệ thuật Bài Chòi là một sáng tạo nghệ thuật dân gian đáng quí của nhân dân các tỉnh miền Trung, trong đó có Khánh Hòa, đây là một loại hình trình diễn dân gian, có sự tích hợp nhiều yếu tố nghệ thuật đặc sắc như âm nhạc, hò vè, ứng tác, diễn xuất. Đó cũng chính là một trong những điểm mạnh mà không phải loại hình trình diễn nào cũng có được.  

Tỉnh Khánh Hòa là một trong chín địa phương vinh dự được lập hồ sơ khoa học đề cử quốc gia trình UNESCO xét và công nhận nghệ thuật Bài Chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong năm 2015. Trên cơ sở đó, để tiếp tục bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật trình diễn Bài Chòi ở Khánh Hòa trong thời gian đến, ngày 03 tháng 7 năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Kế hoạch về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật Bài Chòi dân gian trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2015 – 2020.

Để triển khai nhiệm vụ nói trên, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tích cực tham mưu tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ trước mắt:

- Tiếp tục điền dã, thống kê khoa học và xây dựng hồ sơ: Kết hợp giữa các phương pháp Dân tộc nhạc học (Ethnomusicology) và Âm nhạc học (Musicology); quay phim, chụp ảnh.. . Nội dung trình bày trong hồ sơ sẽ nhấn mạnh, làm rõ những đặc điểm và giá trị của nghệ thuật trình diễn dân gian trong Bài chòi ở các địa phương, không đi theo hướng Sân khấu Bài Chòi. 

- Chúng ta cần tìm ra, tổng kết, tổ chức hội thảo khoa học và chứng minh được những vấn đề về lịch sử, đặc trưng, giá trị, sức sống của Bài Chòi ở Khánh Hòa cùng với những định hướng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản quí báu này.

 

Nhằm bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật trình diễn bài Chòi trong thời gian đến, ngành Văn hóa, thể thao và Du lịch đã sớm có kế hoạch triển khai đưa bộ môn nghệ thuật Bài chòi đi đúng hướng. Qua đó không chỉ khơi dậy phong trào hoạt động văn hóa, văn nghệ trình diễn Bài Chòi, phục dựng vở diễn ở các địa phương, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, mà còn phục vụ có hiệu quả các lễ hội truyền thống và các sự kiện văn hóa của tỉnh. Đồng thời quảng bá nghệ thuật Bài Chòi đến với công chúng; với du khách trong và ngoài nước khi đến với vùng vùng đất Khánh Hòa./.

Ths Lê Văn Hoa

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan